CHỢ NỊU XÃ QUẢNG THÁI

LỜI NHẮN HÀNG NGÀY

Ảnh ngẫu nhiên

Z5889520282724_c742c52ba6de521bfbf6539bd7e7f789_57a9f.jpg ANH_LE_KHANH_THANH_THU_VIEN.jpg 4.jpg T_dao.jpg 464496778_873457064915872_4208976786497405963_n.jpg Z2208858257466_e2edb8dc51addedaeba88cae815adb12.jpg 222.jpg 111.jpg 444481984_775152851412961_1106075017409603468_n.jpg 342327433_178161564706233_1443118239438247459_n.jpg 222.jpg

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    TRÍCH DẪN SÁCH HAY

    "Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn.” - Barack Obama

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    CHÚC QUÝ THẦY CÔ & CÁC EM HỌC SINH ĐÓN MỘT NĂM HỌC 2025-2026 NHIỀU THÀNH CÔNG VÀ TỎA SÁNG

    LỄ KHÁNH THÀNH THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LÊ XUÂN

    CHÀO MỪNG THẦY CÔ VÀ CÁC EM ĐẾN TRANG WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LÊ XUÂN – THỪA THIÊN HUẾ!

    Những chuyện kể về tấm gương trung thực, trách nhiệm...của Hồ Chí Minh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Thơi
    Ngày gửi: 22h:00' 23-07-2024
    Dung lượng: 2.5 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    NHỮNG CHUYỆN KỂ VỀ
    TẤM GƯƠNG TRUNG THỰC, TRÁCH NHIỆM,
    GẮN BÓ VỚI NHÂN DÂN CỦA
    CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

    HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
    Chủ tịc h Hộ i đồ ng
    PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
    Phó Chủ tịc h Hộ i đồ ng
    PHẠM CHÍ THÀNH
    Thành viên
    TRẦN QUỐC DÂN
    TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
    TS. NGUYỄN AN TIÊM
    NGUYỄN VŨ THANH HẢO

    LÊ TRANG
    (Sưu tầm)

    NHỮNG CHUYỆN KỂ VỀ
    TẤM GƯƠNG TRUNG THỰC, TRÁCH NHIỆM,
    GẮN BÓ VỚI NHÂN DÂN CỦA
    Chủ tịc h HỒ CHÍ MINH

    NHÀ XUẤT BẢN

    NHÀ XUẤT BẢN

    CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG

    HÀ NỘI - 2016

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    Trong những năm qua, Nhà xuất bản Chính trị quốc
    gia Sự thật đã xuất bản nhiều cuốn sách tập hợp những
    bài viết dưới dạng hồi ký, giản dị nhưng rất cảm động
    của cán bộ, chiến sĩ đã từng phục vụ, sống và làm việc
    với Chủ tịch Hồ Chí Minh hoặc trong cuộc đời có may
    mắn, hạnh phúc được một lần gặp Bác, nhận từ Bác
    những chỉ dẫn ân cần và tình thương yêu vô bờ bến.
    Từ những cuốn sách đã được công bố, tác giả Lê
    Trang đã tuyển chọn một số bài viết và được Nhà xuất
    bản Thông tin truyền thông xuất bản thành cuốn sách
    Những chuyện kể về tấm gương trung thực, trách
    nhiệm, gắn bó với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    Cuốn sách này được Hội đồng chỉ đạo xuất bản sách
    trang bị cho xã, phường, thị trấn phê duyệt xuất bản
    năm 2016.
    Từ cách sắp xếp tản mạn trong bản thảo của Nhà
    xuất bản Thông tin truyền thông, chúng tôi tổ hợp, cấu
    trúc lại, sắp xếp các bài viết có chủ đề gần nhau, chẳng
    hạn như Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ, Bác Hồ với miền
    Nam, Bác Hồ đi thăm các địa phương đơn vị, những
    ngày tháng cuối cùng của Bác Hồ... thành từng cụm để

    5

    bạn đọc tiện theo dõi. Các bài viết ở từng chủ đề được
    đặt theo trật tự thời gian diễn ra câu chuyện.
    Xuất bản cuốn sách nhỏ này, Nhà xuất bản Chính trị
    quốc gia Sự thật mong muốn giúp cán bộ ở cơ sở xã,
    phường, thị trấn có thêm hiểu biết về cuộc đời, sự nghiệp,
    tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần thực
    hiện thắng lợi Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của
    Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng,
    đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc tiếp tục
    thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn
    đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
    Tháng 8 năm 2016
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    6

    CÓ THỂ CHO NGƯỜI NGHÈO
    NHỮNG THỨ ẤY

    Khoảng năm 1914, Bác Hồ - lúc bấy giờ gọi là
    Nguyễn Tất Thành - đã đến Luân Đôn - Thủ đô
    của nước Anh. Ở đây, có thời gian Bác phải làm
    phụ bếp cho khách sạn Cáctơn1.
    Ở khách sạn Cáctơn, hằng ngày có người phục
    vụ dưới bếp. Những người này, sau khi khách ăn
    xong, có nhiệm vụ phải thu dọn bát đĩa... và đổ tất
    cả thức ăn thừa vào một cái thùng to rồi sau đó
    đem đổ đi. Có khi những thức ăn thừa là một
    phần tư con gà, hay cả đĩa bánh mỳ và những
    miếng bít tết to tướng...
    Đến lượt anh Thành làm phụ bếp, những thức ăn
    thừa của khách, anh đem để riêng và đậy lại cẩn
    thận sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng rồi đưa cho nhà bếp.
    Thấy vậy ông đầu bếp Étcốtphie hỏi lại anh:
    - Tại sao anh không đem những thức ăn này đổ
    vào thùng như những người khác?
    ____________
    1. Một khách sạn nổi tiếng ở Luân Đôn do ông Étcốtphie
    người Pháp làm đầu bếp.

    7

    Anh Thành điềm tĩnh trả lời:
    - Không nên đem vứt những thứ này đi. Ông có
    thể cho người nghèo những thứ ấy.
    Câu nói của anh Thành làm cho ông đầu bếp
    rất ngạc nhiên, vì ông thấy từ trước tới nay, chưa
    có ai ở khách sạn này nghĩ và nói như anh Thành.
    Ông chủ bếp và mọi người nhìn anh biểu hiện
    một sự quý mến và khâm phục trước tấm lòng yêu
    thương của anh đối với những người nghèo.
    Nguồn: Vũ Kỳ: Thư ký Bác Hồ kể chuyện,
    Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.

    8

    BÁC QUAN TÂM CHĂM SÓC CÁN BỘ

    Tháng 2-1941, Bác Hồ về Pác Bó. Để trực tiếp
    chỉ đạo phong trào và bồi dưỡng cán bộ, Bác cho
    mấy anh em Huyện ủy Hà Quảng (Cao Bằng) đang
    hoạt động bí mật ở cùng với Bác. Ngoài các đồng
    chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp... đi
    theo Bác, lúc này trong hang có thêm các đồng chí
    Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Thuỵ Hùng, Đức Thanh
    và tôi.
    Hồi ấy, có đồng chí Lê Quảng Ba và Hoàng
    Sâm phụ trách bảo vệ cơ quan Bác và tổng Lục
    Khu. Còn tôi thì được phân công trực tiếp phụ
    trách tổng Hà Quảng (gồm những xã Sóc Hà, Nà
    Sắc và vùng mỏ Sắt bấy giờ), kiêm nhiệm vụ kiểm
    tra tổng Thông Nông.
    Trước khi chúng tôi đi xuống cơ sở công tác, bao
    giờ Bác cũng bảo báo cáo chương trình, kế hoạch cụ
    thể cho Bác nghe. Bác bổ sung thêm rồi bảo chúng
    tôi nhắc lại thật đúng rồi mới cho đi. Do đó, bọn tôi
    rất vững dạ, như người đi rừng có địa bàn trong tay.
    Cứ mỗi lần có đồng chí rời hang là Bác lại lo lắng:
    lo sao anh em được bình yên trở về, thoát khỏi mọi
    9

    sự bất trắc dọc đường. Khi thấy anh em về, Bác vui
    hẳn lên. Câu đầu tiên Bác nói là hỏi han sức khoẻ,
    sau đó cho anh em nghỉ ngơi, tắm giặt, rồi mới làm
    việc. Lúc ấy, phong trào đang lên, công việc rất
    nhiều, nên anh em chúng tôi không ai muốn nghỉ,
    đợi được báo cáo tình hình, xong là đi ngay. Nhưng
    Bác không đồng ý.
    Thỉnh thoảng đi công tác về, chúng tôi lại được
    Bác chia cho kẹo. Hỏi đồng chí Cáp mới biết đó là
    quà của nhân dân Pác Bó đi chợ mua về biếu Bác.
    Bác chỉ ăn một, hai chiếc. Còn bao nhiêu gói lại,
    cất vào ống tre, Bác bảo:
    - Để dành cho các chú ấy đi công tác về ăn.
    Quà của Bác tuy nhỏ, nhưng cử chỉ của Bác là
    cả một tình thương, có sức động viên chúng tôi rất
    mạnh. Mỗi lần đi lâu ngày mới về, bao giờ Bác
    cũng dặn đồng chí cấp dưỡng cố gắng tìm mua
    thức ăn về “thết tiệc” anh em. Gọi là tiệc, nhưng
    chỉ thêm vài miếng thịt lợn luộc chấm muối.
    Ở hang, nhưng hằng ngày Bác vẫn giữ đúng giờ
    giấc. Đến giờ, nếu ai ngủ chưa dậy thì Bác khẽ
    đánh thức. Song, đối với anh em chúng tôi mới đi
    công tác về, Bác bảo anh em khác phải im lặng,
    giữ ý từng bước chân, để chúng tôi được ngủ thêm
    một lúc.
    Tôi còn nhớ một lần, đồng chí Đức Thanh đi
    công tác về bị ốm, nằm liệt giường. Bác buồn lắm.
    Bác bảo đồng chí Cáp vào rừng lấy lá thuốc về cho
    10

    đồng chí Thanh uống và xông. Chốc chốc Bác lại
    đến sờ trán đồng chí Đức Thanh.
    Ngồi làm việc ở một góc hang, tôi im lặng theo
    dõi từng cử chỉ của Bác. Nhìn nét mặt lo âu của
    Bác, tôi bỗng nhớ đến lúc còn bé, bị ốm chốc chốc
    mẹ lại sờ trán tôi, nét mặt vui buồn đều gắn vào
    độ nóng, lạnh trong người tôi truyền qua bàn tay
    nhăn nheo của mẹ. Cử chỉ của Bác trong lúc này
    chẳng khác dáng dấp của mẹ tôi khi xưa.
    Những tình cảm sâu sắc của Bác đối với chúng
    tôi hơn ruột thịt, đã động viên chúng tôi vượt qua
    mọi khó khăn gian khổ những năm tháng sống
    trong hang giữa rừng.
    Hoàng Tô (nguyên Chủ tịch Ủy ban Mặt
    trận Tổ quốc Việt Nam Khu tự trị Việt
    Bắc) kể.
    Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
    Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005,
    tr.596-598.

    11

    BÁC THƯƠNG YÊU CÁN BỘ

    Bác thương yêu cán bộ rất chân thực, mộc mạc
    và xuất phát từ đáy lòng. Trong tám đồng chí:
    Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng,
    Lợi thì đồng chí Lợi là người Nùng ở Cao Bằng.
    Anh bảo vệ Bác mấy năm thì xin Bác về với gia
    đình. Bác tiếc nhưng thông cảm với hoàn cảnh,
    biết lưu lại không được nên phải cho đồng chí Lợi
    về. Bác luôn luôn nhớ đồng chí Lợi. Hồi đó tôi công
    tác tại Cao Bằng. Hai lần được sang báo cáo công
    tác với Bác, Bác đều dặn tôi lên nói với địa phương
    thăm nom đồng chí Lợi, giúp đỡ khi ốm đau, kể cả
    đối với gia đình đồng chí.
    Những lúc báo cáo công việc cũng chính là lúc
    được Bác giáo dục. Bác giao cho tôi và các đồng chí
    Tỉnh ủy Cao Bằng và ủy ban phải khéo giữ yên ổn
    vùng biên giới để khỏi bị bọn thân Pháp và phản
    động ở biên giới quấy rối ta trong lúc ta đang phải
    tập trung chống Pháp.
    Nói chung chúng tôi đã thực hiện được lời Bác
    dặn. Riêng tôi vì có quan hệ buôn bán với bọn cầm
    đầu ở biên giới trong chính quyền và quân đội nên
    12

    quan hệ đôi bên cũng yên ổn. Có lần tôi về báo cáo
    ngắn gọn. Sau khi nghe xong Bác vui vẻ nhận xét
    rồi dặn thêm mấy điều mà đến nay tôi còn nhớ
    mãi. Bác dặn:
    - Bọn đặc vụ thân Pháp đang hoạt động ở biên
    giới để tìm hiểu tình hình của ta và phá hoại ta.
    Khi sang giao thiệp có gì đáng nói hãy nói, cái gì
    không đáng nói thì đừng nói. Ngay trong gia đình
    cũng có những việc không nên nói cho bên ngoài
    biết. Chú đừng thật thà quá. Đi với Phật phải mặc
    áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy. Các chú giữ yên
    biên giới như thế là tốt, nhưng thành ngữ có câu:
    “Cư yên tư nguy, cư trị bất vong loạn”1. Chú có
    hiểu hai câu đó không?
    - Thưa Bác có ạ.
    Bác cười. Thế là tôi lại khoác ba lô từ giã Bác
    để đi Cao Bằng. Khi đi đường tôi suy nghĩ thấy
    Bác thật là một bậc túc nho. Bác thuộc rất nhiều
    thành ngữ Hán, sử dụng rất nhuần nhuyễn và
    mỗi khi dùng thành ngữ là một lần Bác giáo dục
    cán bộ, để cho cán bộ trưởng thành mà không cần
    nói dài.
    Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
    Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.

    ____________
    1. “Cư an tư nguy, cư trị bất vong loạn”: đại ý là lúc
    yên, vẫn phải nghĩ đến những mối nguy tiềm ẩn, sống yên
    bình phải nghĩ đến lúc nguy biến.

    13

    HÌNH ẢNH BÁC
    HÌNH ẢNH DÂN TỘC

    Sau Chiến dịch biên giới, tôi lại có lần được
    theo Bác đi công tác. Ở Chiến dịch biên giới, ta có
    thu được một ít ô tô quân sự của địch. Bộ Tổng tư
    lệnh đã đưa một xe đến để Bác đi công tác. Đây là
    lần đầu tiên trong kháng chiến Bác đi công tác
    bằng xe ô tô. Để tránh máy bay địch, cứ chập
    chiều ô tô mới chạy.
    Lái xe là một đồng chí bộ đội trẻ, tính vui nhộn.
    Đi công tác, Bác và anh em chúng tôi đều ăn
    chung với nhau. Một hôm đồng chí cấp dưỡng tìm
    được con chim rất béo, đem quay để phần Bác. Lúc
    ăn, Bác lại đem chia đều cho tất cả mọi người và
    chỉ nhận cho mình một phần bằng những người
    khác. Xong, Bác gắp cái đầu cho đồng chí bác sĩ:
    - Chú suy nghĩ nhiều cho cái đầu.
    Bác gắp đôi cánh cho đồng chí vận tải:
    - Chú mang vác nhiều cho đôi cánh.
    Bác gắp cho đồng chí lái xe:
    - Chú chạy nhiều cho cái “giò”
    14

    Hôm sau, trên đường ô tô bị hỏng. Đồng chí lái
    xe luống cuống lo lắng.
    Bác xuống xe, bảo đồng chí bộ đội lái xe:
    - Chú cứ bình tĩnh sửa chữa.
    Thấy đồng chí lái xe loay hoay mãi, Bác hỏi:
    - Xe hỏng bộ phận nào?
    Đồng chí lái xe đáp, rồi tay chỉ vào bộ phận
    hỏng. Lát sau chỗ hỏng được chữa. Bác bảo đồng
    chí lái xe ngồi vào lái, Bác quay động cơ cho. Nói
    rồi Bác lấy ngay chiếc maniven, móc vào đầu máy
    quay mạnh một vòng. Chiếc xe nổ ậm ạch rồi tắt.
    Bác lại quay mạnh một vòng nữa, chiếc xe nổ máy
    giòn tan. Như một phản ứng tự nhiên, tôi liền đưa
    máy lên chụp Bác.
    Khi về tráng phim, tôi rất mừng. Hình ảnh Bác
    quay động cơ ô tô giúp đồng chí bộ đội lái xe, đã
    được ghi lại. Bác cui cúi, hai chân vững chãi, cánh
    tay rắn khoẻ, chiếc khăn quàng một bên buông
    xuống gương mặt Bác chăm chú gần gũi...
    Nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định kể,
    Đăng Trung ghi.
    Nguồn: Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb. Tác
    phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội,
    1980.

    15

    LÀM SAO LO CHO CÁC CHÁU ĂN NO,
    CÓ QUẦN ÁO MẶC
    Tháng 8-1945, Ủy ban cách mạng họp ở đình Tân
    Trào, có đại biểu khắp nơi đến dự để chuẩn bị cuộc
    tổng khởi nghĩa toàn quốc. Bác Hồ và các đại biểu
    đang ngồi họp ở đình Tân Trào thì đồng bào địa
    phương - đại biểu các dân tộc Tày, Trại, Nùng đến
    chào mừng, thăm hỏi. Hôm đó có khoảng hai, ba em
    nhỏ chừng ba bốn tuổi trong xóm ra chơi trước đình.
    Các em đều xanh gầy, bụng ỏng, đít beo, lại
    trần truồng, lấm lem, đi chân đất. Bác Hồ trông
    thấy rất thương, xúc động, chỉ các cháu, Bác nói
    với đại biểu đến dự đại hội Tân Trào:
    Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao cho các cháu
    được ăn no, có quần áo mặc. Câu nói đó của Người
    mãi mãi ghi sâu trong trí nhớ mọi người có mặt trong
    buổi họp và ai cũng thấy có trách nhiệm thiêng liêng
    chăm lo cho đời sống trẻ em được no cơm, ấm áo.
    Theo lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
    Nguồn: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm
    gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
    Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.

    16

    Ở TÂN TRÀO VỚI BÁC
    Ở Tân Trào, Bác cũng ở trong lán dựng trước
    cửa một cái hang. Với chiếc máy chữ nhỏ đặt trên
    cái bàn nứa trong lán, Bác làm việc ở đó, và ăn
    ngủ cũng ở đó.
    Cây đa Tân Trào.
    Bác bận rộn suốt ngày. Các đồng chí trong
    Trung ương thường xuyên đến họp bàn, xin ý kiến,
    nhận chỉ thị của Bác. Các đoàn thể, đồng bào địa
    phương cũng thường lui tới thăm hỏi Bác.
    Bác đi tới đâu cũng chiếm được tình cảm của
    đồng bào. Chỉ một thời gian ngắn ở Tân Trào mà
    từ cụ già đến em nhỏ ai cũng hết sức kính trọng,
    thương yêu Bác như chính người ruột thịt của
    mình. Đồng bào gọi Bác là ông Ké - ông Ké Nùng,
    ông Ké Tày. Có chút thịt rừng săn bắn được, hay
    ngọn măng, con cá, mớ rau đồng bào cũng đem
    đến biếu Bác. Thường thì Bác chỉ cảm ơn chứ
    không nhận. Bác không bao giờ làm phiền đồng
    bào. Đôi khi quá nể phải nhận thì Bác bảo nhà
    bếp nấu lên, Bác cháu cùng chia ngọt sẻ bùi.
    Sinh hoạt quá kham khổ, Bác lại có tuổi mà
    phải làm việc quá nhiều, sức khỏe sút kém nên
    17

    thỉnh thoảng Bác bị sốt. Lần ấy Bác sốt cao, kéo
    dài. Chúng tôi rất lo lắng. Thuốc men không có đủ.
    Bác sốt vậy mà vẫn cứ làm việc không chịu ngủ.
    Tôi ở cái lán bên cạnh lán của Bác. Đêm ấy,
    thấy Bác vẫn thức làm việc đến tận khuya mà cơn
    sốt vẫn chưa dứt, tôi đánh liều bước vào thưa:
    - Thưa Bác, đã khuya rồi Bác lại đang sốt, xin
    Bác đi nghỉ.
    Bác nhìn tôi âu yếm:
    - Đến phiên chú gác à? Bác sợ sốt mà nằm là nó
    lấn tới. Phải hoạt động, làm việc, vã được mồ hôi
    ra sẽ nhẹ người, rất tốt.
    Thế là Bác lại tiếp tục làm việc. Tôi nhìn mà
    thương quá. Người Bác gầy đi nhiều. Chòm râu,
    mái tóc đã thêm nhiều sợi bạc. Bác cặm cụi bên
    ngọn đèn, lúc quá mệt, Người bước ra vươn vai, hít
    thở khí trời, đi lại xem anh em chúng tôi ngủ có
    ngon lành, canh gác có nghiêm, chặt không. Bác
    giắt lại màn, vén lại chăn cho từng người, rồi Bác
    lại tiếp tục làm việc.
    Bao giờ cũng vậy, chỉ đến khi con chim từ quy
    đã kêu quá nửa vòng núi, tức đã gần sáng, Bác
    mới đi ngủ.
    ...
    Hôm sau, tôi báo cáo với các đồng chí cấp trên, bàn
    phải tìm thầy lang. Ở bản bên cạnh, có một bà lang
    có tiếng, chúng tôi mời bà đến thăm bệnh cho Bác.
    Bác không phản đối nhưng Bác cũng không nói gì.
    Sau khi thăm bệnh nhân, bà lang đã bảo tôi đi
    tìm mấy thứ lá cây theo chỉ dẫn của bà đem về.
    18

    Các loại lá được đun sôi để Bác xông. Nhưng trước
    khi xông, bà lang dùng cành lá quay chung quanh
    như phù phép. Bác vẫn ngồi điềm nhiên. Tôi
    không dám cười. Tôi cứ nghĩ một người cộng sản
    như Bác làm sao lại có thể tin vào cái trò phù
    phép ấy. Nhưng sao Bác lại cứ để yên cho bà lang
    làm như thế, mà không thấy trên nét mặt Bác tỏ
    ra một thái độ gì.
    Cuối cùng bà lang đã bảo Bác xông và sau đó
    uống thuốc nam.
    Đúng là xông xong, Bác thấy người nhẹ nhõm,
    thoải mái hơn. Bác lại tiếp tục công việc. Mãi đến
    giờ nghỉ chiều, hai Bác cháu ra bờ suối tưới rau,
    tôi mới dám hỏi Bác chuyện ấy:
    - Thưa Bác, bà lang làm phép như vậy có thể
    tin không ạ?
    Bác cười:
    - Bác biết bà lang là người biết cách chữa bệnh
    bằng cả phương pháp tâm lý nữa. Mình không nên
    làm phật ý người ta. Vận động, tuyên truyền đồng
    bào trừ mê tín là việc làm lâu dài, phải kiên trì,
    không được nôn nóng.
    Nghe lời Bác dạy, tôi mới hiểu thêm bài học về
    cách cư xử của Bác với đồng bào địa phương, cách
    thức tuyên truyền vận động quần chúng của Bác.
    Tôi tự rút ra cho mình một bài học trong quan hệ
    với nhân dân.
    Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
    Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.

    19

    NHỮNG LỜI BÁC DẠY

    Tôi có một niềm hạnh phúc rất lớn là được gặp
    và làm việc bên Bác Hồ vào những ngày đầu Cách
    mạng Tháng Tám và những tháng đầu năm 1950.
    Những kỷ niệm sâu sắc được sống bên Bác không
    bao giờ tôi quên.
    Hồi đầu Cách mạng Tháng Tám, Hà Nội chuẩn
    bị đón quân Đồng minh vào tiếp nhận phát xít
    Nhật đầu hàng. Các đồng chí ở Văn hoá cứu quốc
    trao trách nhiệm cho đồng chí Nguyễn Huy Tưởng
    và tôi phụ trách các khẩu hiệu treo ở đường phố.
    Thủ đô Hà Nội trong những ngày ấy rợp màu đỏ
    của cờ và khẩu hiệu. Các khẩu hiệu trên băng đỏ,
    chữ vàng chói lọi bằng các thứ tiếng Việt, Nga,
    Anh, Pháp với nội dung:
    “Nước Việt Nam của người Việt Nam”
    “Độc lập hay là chết!”
    “Hoan hô những người giải phóng cho chúng ta”.
    Một hôm, Nguyễn Huy Tưởng cùng đi với tôi
    trên các hè phố Hà Nội, anh cười bảo tôi: “Khoa
    này, những khẩu hiệu và cờ như choàng cho Thủ
    đô chiếc áo ngày cưới”.
    20

    Đến tối, chúng tôi được biết Bác Hồ chỉ thị phải
    bỏ khẩu hiệu: “Hoan hô những người giải phóng
    cho chúng ta”. Bác bảo: Cách mạng Tháng Tám do
    Đảng ta lãnh đạo chúng ta đấu tranh gian khổ với
    thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành lại chính
    quyền, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, chứ có
    ai đến giải phóng cho chúng ta đâu mà các chú
    làm khẩu hiệu “Hoan hô những người giải phóng
    cho chúng ta”.
    Nguyễn Huy Tưởng và tôi ngay đêm hôm ấy
    mượn cái xe cam nhông của Toà Thị chính Hà Nội
    để đi các phố gỡ những khẩu hiệu non yếu về
    chính trị của chúng tôi.
    Bác Hồ của chúng cháu! Chúng cháu nhớ mãi
    kỷ niệm này của đời một người cán bộ cách mạng:
    Độc lập, Tự do không nhờ ai đem đến cho mình
    được. Phải có Đảng lãnh đạo, phải đem xương
    máu của dân tộc mình ra giành lấy và bảo vệ lấy.
    Sau đó, tôi được Đảng điều đến làm việc ở văn
    phòng Bác. Hôm đến làm việc với Bác, một cử chỉ
    rất thân mật của Bác làm tôi xúc động, nước mắt
    cứ trào ra. Bác để tay lên vai tôi, và một tay Bác
    cài chiếc khuy cổ áo sơ mi cho tôi. Tôi ăn mặc cũng
    chỉnh tề lắm, nhưng chiếc khuy cổ áo quên không
    cài. Bác bảo: “Chú làm công tác với những người
    nước ngoài phải nhớ ăn mặc cho tươm tất”. Lời nói
    của Bác như một người cha dạy đứa con nhỏ. Năm
    ấy tôi đã 30 tuổi và cho đến ngày nay và mãi mãi,
    21

    mỗi khi nghĩ đến cử chỉ thân mật của Bác Hồ, tôi
    vẫn giữ niềm vui như một đứa trẻ nhỏ được người
    cha già chăm nom săn sóc cho từng ly từng tí.
    Những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, bao
    nhiêu khó khăn gian khổ: giặc ngoài thù trong giở
    đủ trò đủ quẻ, ra sức phá hoại cách mạng. Trong
    những ngày sóng gió như thế, Bác Hồ đã vững tay
    lái, đưa dân tộc ta qua bao nỗi khó khăn, hiểm
    nghèo. Tôi nhớ hồi đó, một buổi sáng, đồng chí T. lại
    đến báo cáo tình hình với Bác. Bọn giặc làm lắm
    điều ức không thể chịu được. Bọn phản động trong
    nước cũng ra sức hoành hành. Đồng chí T. gặp phải
    nhiều khó khăn quá cũng phải lắc đầu. Bác Hồ bình
    tĩnh bảo: “Cái đầu của chú trong lúc này không được
    lắc. Để giành được cái to lớn và quý báu, tạm thời
    chúng quấy nhiễu đòi hỏi gì cũng phải gật”.
    Câu nói của Bác đến nay tôi vẫn còn nhớ như
    in. Bác đã dạy cho những người yêu nước một
    nhân sinh quan cách mạng: nếu cứu được nước thì
    dù bao nhiêu cay đắng cũng phải chịu. Càng nghĩ
    đến câu nói ngày ấy của Bác, cháu càng thấy
    thấm thía lời Bác dạy ngày nay: Không có gì quý
    hơn Độc lập, Tự do.
    Năm 1950, tôi lại có dịp được Đảng giao cho đi
    công tác bên Bác Hồ. Trong khi đi đường, Bác hỏi
    tôi: Chú Khoa làm công tác văn nghệ có thuộc
    Chinh phụ ngâm không? Tôi trả lời: Thưa Bác,
    cháu thuộc từng đoạn thôi ạ.
    22

    Bác bảo tôi: “Làm công tác văn nghệ mà không
    tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được
    đâu”. Và từ hôm ấy trong khi đi đường, mỗi buổi
    sáng, Bác dạy tôi bốn câu trong Chinh phụ ngâm,
    buổi chiều Bác bảo tôi đọc lại, rồi Bác lại dạy tôi
    bốn câu tiếp. Cứ thế trong mấy chục ngày đường
    đi bộ, Bác dạy tôi thuộc lòng cuốn Chinh phụ
    ngâm từ đầu đến cuối.
    Thỉnh thoảng Bác lại hỏi tôi xem có hiểu nghĩa
    câu văn cho thực sâu không, và Bác bảo tôi ngâm
    những đoạn Bác thích. Thỉnh thoảng Bác động viên
    tôi: “Giọng chú ngâm cũng khá đấy!”. Hai Bác cháu
    cùng cười. Bác bảo: “Đi đường ngâm nga như thế
    vừa vui vừa quên cái mệt”. Bác đi bộ khoẻ lắm. Có
    giờ Bác đi tới sáu cây số. Trên những quãng đường
    vắng của núi rừng Việt Bắc, một ông già mặc bộ
    quần áo chàm, đầu đội chiếc nón, vai khoác chiếc
    túi vải xanh trong đựng một cuốn sổ tay, một hộp
    thuốc lá, một chiếc bật lửa và một chiếc khăn mặt,
    đó là hình ảnh Hồ Chủ tịch đi bộ hàng chục ngày
    đường trèo đèo, lội suối để làm việc cho Tổ quốc
    trong những ngày lịch sử vô cùng trọng đại của
    cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
    Bác Hồ đã vĩnh biệt chúng ta! Bác ơi, ngồi viết
    lại những dòng hồi ký này trong đêm khuya tĩnh
    mịch, nước mắt cháu trào ra vì đau thương, vì nhớ
    Bác. Những ngày cháu được công tác bên Bác,
    cháu đã được nghe Bác kể chuyện những ngày Bác
    23

    bị tù trong tay bọn Quốc dân Đảng Tưởng Giới
    Thạch. Cả cuộc đời Bác là của giai cấp, của dân
    tộc, của Tổ quốc. Bác đã dạy dỗ cháu, dìu dắt
    cháu. Mỗi lần chúng cháu làm xong một phim và
    được vinh dự đem chiếu để Bác xem, Bác chỉ bảo
    cho chúng cháu: người làm công tác nghệ thuật
    phải làm thế nào phục vụ nhân dân được tốt, phải
    làm gì cho xứng đáng là nghệ sĩ cách mạng.
    Chúng cháu nguyện nghe theo lời Bác, cố gắng
    đấu tranh với bản thân mình, trau dồi đạo đức
    cách mạng, trau dồi nghệ thuật để xứng đáng
    đứng trong hàng ngũ những người nghệ sĩ cách
    mạng, dưới ngọn cờ của Bác.
    Nguồn: Người là Hồ Chí Minh (Tập hồi ký),
    Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995.

    24

    BÁC HỒ VÀ TẾT BÍNH TUẤT NĂM 1946

    Không hiểu từ bao giờ, Tết Âm lịch đã trở nên
    thiêng liêng đối với mỗi người dân Việt Nam. Tết
    Bính Tuất đến chỉ sau ngày Bác tuyên bố khai
    sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hơn
    năm tháng. Vì vậy không chỉ người dân Hà Nội
    mà mọi người dân trong cả nước đều nghĩ đến Tết
    độc lập đầu tiên sớm hơn mọi năm. Một tuần nữa
    mới tới ngày ông Táo lên trời mà mọi nhà đã sửa
    soạn cả rồi. Đối với Bác Hồ, mặc dù bận trăm công
    nghìn việc của Chính phủ mới, nhưng vẫn không
    quên lo Tết cho đồng bào, chiến sĩ.
    Tối ngày 19-1-1946, Bác hỏi tôi:
    - Chú Cần xem sắp đến ngày Tết ông Táo
    chưa nhỉ?
    - Thưa Bác, hôm nay mới là 18 tháng Chạp,
    còn năm ngày nữa ạ.
    Đêm đó, Bác trằn trọc không ngủ. Nghe tiếng cựa
    mình, tôi biết Bác còn thức. Chắc giờ này Bác
    đang nghĩ nhiều đến đồng bào và chiến sĩ cả nước.
    Sáng 20, Bác gọi tôi lại, bảo lấy giấy bút, Bác đọc
    cho viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến.
    25

    Thư ngắn gọn và tôi cứ tưởng như Bác đang nói
    chuyện với mọi người: “Tôi kêu gọi đồng bào và các
    đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân
    mừng Tết với:
    Những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận,
    Những gia quyến các chiến sĩ,
    Những đồng bào nghèo nàn,
    Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui
    về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”1.
    Ngay chiều hôm đó, Bác lại viết thư gửi thanh
    niên và nhi đồng. Bác gửi riêng cho thanh niên và
    nhi đồng bởi đây là những chủ nhân tương lai của
    đất nước, cả nước đang đặt niềm tin vào thế hệ trẻ
    mà thư trước Bác chưa nhắc đến. Bác đọc chậm
    rãi cho tôi viết và cẩn thận sửa lại một số từ mà
    Bác chưa vừa lòng. Lời so sánh trong thư làm cho
    bất cứ bạn trẻ nào khi đọc, khi nghe cũng đều
    thấy một sức xuân phơi phới trong mình: “Một
    năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ
    tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”2. Thư
    Bác khuyên bảo: “Năm mới, chúng ta thực hành
    đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng
    đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”3.
    Ngày 1-2-1946, tức 30 Tết, từ sáng sớm anh Cả
    (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) mang đến hai
    ____________
    1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
    gia, Hà Nội, 2015, t.4, tr.186, 194.

    26

    bọc nói là Bác đã dặn. Chiều lúc đi làm về, Bác nói
    với tôi:
    - Tối nay chú đưa Bác đến thăm một số gia
    đình Tết nghèo, Tết vừa, Tết khá, Tết sang. Chú
    không phải báo trước cho bất cứ ai.
    Bác lại dặn chỉ cần hai bảo vệ, một lái xe đi cùng
    nên tôi rất lo lắng, bởi ta vừa giành được chính
    quyền, các thế lực phản động vẫn đang rắp tâm phá
    hoại cách mạng. Thấy tôi không yên tâm Bác giải
    thích và động viên: “Chú có biết cách bảo vệ tốt nhất
    là gì không? Bảo vệ tốt nhất là bí mật và bất ngờ!”.
    Bác nói thêm:
    - Dân ta rất tốt. Chú phải tin vào dân.
    Lời nói của Bác làm tôi bình tĩnh hơn, nhưng
    vẫn chưa hết lo. Là một cán bộ hoạt động bí mật ở
    Hà Nội, tôi hiểu khá tường tận các đường phố nên
    sắp sẵn trong đầu những chỗ sẽ đến, những phố sẽ
    đi qua làm thế nào để đường đi ngắn và an toàn.
    19 giờ ngày 30 Tết, trời tối đen. Cái tối đêm 30.
    Trời rét ngọt. Năm Bác cháu lên xe. Xe chạy qua
    từng phố vắng vẻ. Cái ồn ào, sôi động của không
    khí đón Tết giờ này đã chuyển vào trong từng ngôi
    nhà, để lại cho đường phố một vẻ yên tĩnh lạ
    thường. Xe dừng lại ở đầu ngõ Hàng Đũa, phố
    Sinh Từ. Bác cháu lần mò vào trong ngõ. Đường
    mấp mô, có lúc phải bật đèn pin. Tôi đưa Bác vào
    một nhà ở cuối ngõ, gọi cửa không thấy tiếng trả
    lời. Không cài then, tôi đẩy cửa vào một căn phòng
    27

    hẹp lạnh lẽo. Ngọn đèn dầu nhỏ không đủ soi
    sáng. Tôi hỏi to:
    - Nhà có ai không?
    Chỉ có tiếng rên từ một chiếc võng tre kê sát
    vách. Lại gần thấy một người đắp chiếu đang rên.
    Tôi ghé vào đầu giường nói:
    - Cụ Hồ đến chúc Tết đấy!
    Không thấy tiếng đáp lại, nhưng tiếng rên
    không to nữa. Tôi rờ tay lên trán chủ nhà thấy sốt
    nóng. Bác bảo kéo chiếu kín cho chủ nhà, rồi Bác
    cháu lặng lẽ đi ra, khép kín cửa lại. Ngồi trên xe
    Bác nói khẽ như nói với chính mình: “30 Tết mà
    không có Tết”. Không khí trong xe lặng đi. Chỉ
    nghe thấy tiếng động cơ xe chạy. Bác dặn tôi: “Mai
    chú nhớ mang thuốc, quà và thiếp chúc Tết đến
    thăm hỏi” (Sáng hôm sau, khi mang thuốc, quà và
    thiếp chúc Tết đến thăm, chúng tôi mới biết chủ
    nhà là người tỉnh khác về Hà Nội làm phu kéo xe
    không đủ tiền để về quê ăn Tết với gia đình).
    Xe dừng lại trước cửa một nhà ở phố Hàng Lọng
    gần ga Hàng Cỏ (nay là phố Lê Duẩn), gọi cửa có
    người ra mở ngay. Khi nhận ra Cụ Hồ, mọi người
    luýnh quýnh kéo vội quần áo đang phơi trên dây
    chăng ngang nhà. Đây là nhà của một viên chức
    nghèo. Cụ Hồ chúc Tết, thăm hỏi gia đình. Gia
    đình vui sướng quây quần quanh Bác, quên cả chúc
    Tết Cụ Hồ. Xe tới phố Hàng Vải Thâm. Phố vắng
    tanh và lạnh, đèn điện sáng lờ mờ. Nhưng khi cánh
    28

    cửa nhà hé mở thì ánh điện trong nhà sáng loé.
    Căn nhà hẹp nhưng sâu. Gian bên ngoài kê một bộ
    sa lông bằng gỗ nghiến trạm trổ, mặt bàn bằng đá
    vân mây, lọ độc bình cao to cắm cành đào như cả
    một cây, nụ to, hoa nở đỏ thắm choán cả lối đi. Bên
    kia là một chậu quất, quả chín mọng. Cạnh đó là
    mấy chậu cúc vàng. Sâu vào bên trong có một chiếc
    giường gụ chân quỳ kê sát tủ chè lồng kính. Bên
    trên là bàn thờ, đỉnh đồng sáng bóng, khói trầm
    nghi ngút, bày mâm cỗ, bánh chưng và ngũ quả,
    trong đó có bưởi và phật thủ. Cụ Hồ chúc Tết gia
    đình và gia đình cũng chúc Cụ Hồ năm mới sống
    lâu mạnh khỏe!
    Tới mấy nhà buôn bán to và quan lại cũ, gọi
    cửa không thấy mở. Bác ngồi trên xe thấy lâu, ra
    hiệu thôi. Bác cháu trở về nhà.
    Nhắc lại chuyện cũ, tôi nhớ câu thơ của Tố Hữu:
    “Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế
    Ôm cả non sông mọi kiếp người”
    Người Hà Nội có thói quen đón Tết trong ngôi
    nhà ấm cúng của gia đình cho nên đường phố
    vắng teo. Lúc đó đã là 21 giờ 30 phút. Vừa về đến
    nhà (số 8 Lê Thái Tổ), Bác bảo riêng tôi lên phòng,
    bàn chương trình đón giao thừa. Tôi mở hai gói lúc
    sáng anh Cả chuyển đến. Đó là quần áo dành cho
    Bác và tôi cải trang đi đón giao thừa ở đền Ngọc
    Sơn. Bác mặc thử: khăn xếp, áo the, quần trắng,
    29

    giầy Gia Định, kèm theo chiếc mục kỉnh đeo trễ
    xuống, trông Bác như một cụ đồ nhà quê. Tôi mặc
    quần trắng, áo láng đen, chân đi dép da, đầu tóc
    để trần, trông hệt như con nhà nền nếp. Mặc thử
    xong Bác bảo tôi:
    - Trước 12 giờ, hai Bác cháu đi bộ ra đền Ngọc
    Sơn hái lộc đón giao thừa.
    Bác dặn thêm:
    - Không cần bảo vệ đi theo.
    Lúc này tôi lo lắng thật sự.
    Bác nhắc lại câu: “Bảo vệ tốt nhất là bất ngờ và
    bí mật”. Và nhớ lại câu nói của Bác “Dân ta rất
    tốt”, “Chú phải tin ở dân”, nỗi lo trong tôi vơi đi
    phần nào. Trước lúc ra khỏi nhà tôi giấu Bác giắt
    khẩu súng ngắn trong cạp quần cho yên tâm.
    Chập tối, các đường phố vắng vẻ là thế, mà lúc
    này, người người nối đuôi nhau trên các nẻo
    đường đổ về hồ Hoàn Kiếm đón giao thừa. Cầu
    Thê Húc, đền Ngọc Sơn chật ních người. Tôi đi
    trước tay trái dắt Bác, tay phải rẽ người chen vào
    đám đông. Trông Bác lúc này giống hệt ông cụ
    nhà quê ra ăn Tết với con cháu ở Hà Nội. Người
    Thủ đô vốn có tiếng là thanh lịch, nhưng đêm giao
    thừa đó, khi dắt Bác chen qua đám trai thanh gái
    lịch, tôi vẫn nghe thấy tiếng đầy bực dọc: “Hai ông
    cháu nhà quê đi đâu mà lớ ngớ, không cúng lễ mà
    cũng chẳng hái lộc”! Bác như đang hòa vào không
    khí vui xuân với người dân Hà Nội, còn tôi chỉ lo
    30

    lạc Bác. Lúc trở ra qua được cầu Thê Húc, hai Bác
    cháu nhìn nhau mỉm cười. Có lẽ thấy được sự lo
    lắng của tôi thể hiện trên nét mặt nên Bác nói:
    - Tôi trông chú thấy buồn cười quá. Bây giờ
    chưa về ngay đâu, hai Bác cháu đi dọc thêm phố
    Hàng Đào xem mọi người đón Tết ra sao.
    Cảm giác lo lắng theo tôi suốt dọc đường. Chỉ
    khi về đến nhà tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Tôi gọi
    điện cho Giám đốc Sở Liêm phóng, báo tin hai Bác
    cháu vừa đi đón giao thừa ở đền Ngọc Sơn. Giám
    đốc Sở Liêm phóng được một phen hú vía. Cũng
    như Giám đốc Sở dân chính Hà Nội, không ai biết
    đêm giao thừa đầu tiên của nước Việt Nam độc
    lập, Cụ Hồ đã cùng nhân dân Thủ đô chen vai sát
    cánh đón Tết Độc lập.
    Sáng mồng một Tết, Bác dậy sớm. Chưa đến
    giờ làm việc, Bác đã bảo tôi đem giấy ra viết khai
    bút. Bác bảo tôi viết to cho dễ đọc: “Hôm nay là
    ngày mồng một Tết năm Bính Tuất. Ngày Tết đầu
    tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Tôi
    thấy mình nhỏ bé lại như những ngày đi học trước
    kia, chẳng khác lúc thầy đọc cho viết chính tả. Bác
    chúc đồng bào cả nước, chúc các chiến sĩ ngoài
    mặt trận, chúc gia quyến các chiến sĩ ở hậu
    phương, năm mới vui vẻ, khoẻ mạnh và thắng lợi.
    Viết xong, Bác bảo tôi:
    - Chú báo chú Hưng, 7 giờ đến gặp Bác ở Bắc
    Bộ phủ.
    31

    Đồng chí Trần Duy Hưng có mặt tại phòng làm
    việc của Bác trước 7 giờ. Bác nói:
    - Bác đã viết thư kêu gọi trước Tết ông Táo mà
    các chú không tổ chức làm cho nhiều gia đình
    không có Tết. Các chú có khuyết điểm không thực
    hiện thư Bác. Thế các chú sửa khuyết điểm này
    như thế nào?
    Chúng tôi đứng lặng nhìn nhau, chưa biết nói
    thế nào, Bác nói tiếp:
    - Thôi thế này, các chú cùng đội tuyên truyền
    xuống các đường phố, xem nhà nào chưa có Tết thì
    vận động hai nhà bên cạnh biếu họ chiếc bánh
    chưng và quả cam.
    Chúng tôi làm theo lời Bác. Tết năm ấy, những
    gia đình nghèo cũng được hưởng Tết, đón Xuân.
    Đồng chí Vũ Kỳ kể.
    Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
    Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.

    32

    “MUỐN VẬN ĐỘNG CÓ KẾT QUẢ,
    MÌNH PHẢI LÀM GƯƠNG!”

    Hôm đó là ngày 19-5-1946. Chúng tôi đến chúc
    thọ Hồ Chủ tịch cùng mấy đoàn thể. Giới thiệu
    đến Ủy ban Đời sống mới, Cụ bỗng hỏi như níu lại:
    - Đời sống mới là ai?
    Đóng khung câu chuyện, Cụ hỏi dồn dập, chăm
    chú, không cho chúng tôi lảng sang vấn đề khác.
    Buổi chúc thọ Hồ Chủ tịch bỗng biến thành cuộc
    thảo luận ráo riết và thân mật về đời sống mới.
    - Chú cho tôi biết cuộc vận động đời sống mới
    đến đâu rồi?
    - Thưa Cụ, - tôi đáp, - chúng tôi đã bắt đầu
    bằng sự chia ra các ban nghiên cứu, tổ chức, v.v..
    Nhưng công việc chính là định rõ cái hướng cho
    đời sống mới. Mấy khẩu hiệu “cần, kiệm, liêm,
    chính” chúng tôi xét ...
     
    Gửi ý kiến

    Nhúng mã HTML